Cho đoạn tư liệu sau đây:
"Đòn tấn công ngoại giao đầu tiên nổ ra đầu năm 1967, trước tiên là nhằm đánh lạc hướng Mỹ, tạo thế bất ngờ cho Tổng tiến công và nổi dậy, cũng như tạo điều kiện đàm phán trong giai đoạn sau. Sang năm 1969, tình hình đã thay đổi. Đã có tiếp xúc đàm phán trực tiếp Việt - Mỹ và để xác định ý đồ của Mỹ trong đàm phán... Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công xuân - hè 1972, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết định đi vào đàm phán thực chất hơn để phát huy thắng lợi quân sự và tích cực triển khai thế trận vừa đánh vừa đàm đến kết thúc chiến tranh theo điều kiện của Việt Nam. Cục diện đánh - đàm kéo dài cho đến lúc Hiệp định Pari được kí kết 1-1973"
(Nguyễn Vũ Tùng, Tiếp cận chính sách đối ngoại Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2019, tr.225,226)
Cho đoạn tư liệu sau đây:
"Đòn tấn công ngoại giao đầu tiên nổ ra đầu năm 1967, trước tiên là nhằm đánh lạc hướng Mỹ, tạo thế bất ngờ cho Tổng tiến công và nổi dậy, cũng như tạo điều kiện đàm phán trong giai đoạn sau. Sang năm 1969, tình hình đã thay đổi. Đã có tiếp xúc đàm phán trực tiếp Việt - Mỹ và để xác định ý đồ của Mỹ trong đàm phán... Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công xuân - hè 1972, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết định đi vào đàm phán thực chất hơn để phát huy thắng lợi quân sự và tích cực triển khai thế trận vừa đánh vừa đàm đến kết thúc chiến tranh theo điều kiện của Việt Nam. Cục diện đánh - đàm kéo dài cho đến lúc Hiệp định Pari được kí kết 1-1973"
(Nguyễn Vũ Tùng, Tiếp cận chính sách đối ngoại Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2019, tr.225,226)
"Đòn tấn công ngoại giao đầu tiên nổ ra đầu năm 1967, trước tiên là nhằm đánh lạc hướng Mỹ, tạo thế bất ngờ cho Tổng tiến công và nổi dậy, cũng như tạo điều kiện đàm phán trong giai đoạn sau. Sang năm 1969, tình hình đã thay đổi. Đã có tiếp xúc đàm phán trực tiếp Việt - Mỹ và để xác định ý đồ của Mỹ trong đàm phán... Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công xuân - hè 1972, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết định đi vào đàm phán thực chất hơn để phát huy thắng lợi quân sự và tích cực triển khai thế trận vừa đánh vừa đàm đến kết thúc chiến tranh theo điều kiện của Việt Nam. Cục diện đánh - đàm kéo dài cho đến lúc Hiệp định Pari được kí kết 1-1973"
(Nguyễn Vũ Tùng, Tiếp cận chính sách đối ngoại Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, năm 2019, tr.225,226)
Các mệnh đề Đúng / Sai:
a)
Sử dụng nghệ thuật kéo địch xuống thang từng bước trong đấu tranh trên bàn đàm phán thể hiện sự khôn khéo, biết tranh thủ mọi cơ hội của ngoại giao Việt Nam.
b)
Mỹ đã tận dụng thành công "ngoại giao bóng bàn" để cô lập triệt để cuộc kháng chiến của nhân dân ta.
c)
Rút kinh nghiệm từ Hội nghị Gionevo, tại Hội nghị Pari Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đàm phán trực tiếp với Mỹ về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam.
d)
Cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán Pari là đỉnh cao của sự kết hợp trên mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao trong đó ngoại giao còn che chắn, hỗ trợ thích hợp cho các mặt trận khác.
Đáp án chính thức: a:Đ,b:S,c:Đ,d:Đ
Hướng dẫn giải chi tiết
Đáp án: a Đúng, b Sai, c Đúng, d Đúng.
a) Đúng. Đấu tranh ngoại giao của Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ rất linh hoạt. Ta biết kết hợp thắng lợi quân sự với đàm phán, từng bước buộc Mĩ xuống thang, từ chỗ không chấp nhận đàm phán đến chấp nhận thương lượng và kí Hiệp định Pari. Điều đó thể hiện sự khôn khéo, biết tranh thủ thời cơ của ngoại giao Việt Nam.
b) Sai. “Ngoại giao bóng bàn” là một biểu hiện trong quan hệ Mĩ - Trung đầu những năm 70, không phải công cụ giúp Mĩ cô lập triệt để cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Trên thực tế, cuộc kháng chiến của Việt Nam vẫn nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và nhân dân tiến bộ thế giới.
c) Đúng. Từ kinh nghiệm Hội nghị Giơnevơ năm 1954, Việt Nam chú trọng hơn đến việc trực tiếp đàm phán với đối phương chính. Tại Hội nghị Pari, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trực tiếp đàm phán với Mĩ về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
d) Đúng. Đấu tranh tại Hội nghị Pari là đỉnh cao của sự phối hợp giữa quân sự, chính trị và ngoại giao. Thắng lợi quân sự trên chiến trường tạo thế mạnh cho ngoại giao; ngoại giao lại góp phần tranh thủ dư luận quốc tế, cô lập Mĩ và hỗ trợ các mặt trận khác.
a) Đúng. Đấu tranh ngoại giao của Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ rất linh hoạt. Ta biết kết hợp thắng lợi quân sự với đàm phán, từng bước buộc Mĩ xuống thang, từ chỗ không chấp nhận đàm phán đến chấp nhận thương lượng và kí Hiệp định Pari. Điều đó thể hiện sự khôn khéo, biết tranh thủ thời cơ của ngoại giao Việt Nam.
b) Sai. “Ngoại giao bóng bàn” là một biểu hiện trong quan hệ Mĩ - Trung đầu những năm 70, không phải công cụ giúp Mĩ cô lập triệt để cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Trên thực tế, cuộc kháng chiến của Việt Nam vẫn nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và nhân dân tiến bộ thế giới.
c) Đúng. Từ kinh nghiệm Hội nghị Giơnevơ năm 1954, Việt Nam chú trọng hơn đến việc trực tiếp đàm phán với đối phương chính. Tại Hội nghị Pari, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trực tiếp đàm phán với Mĩ về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
d) Đúng. Đấu tranh tại Hội nghị Pari là đỉnh cao của sự phối hợp giữa quân sự, chính trị và ngoại giao. Thắng lợi quân sự trên chiến trường tạo thế mạnh cho ngoại giao; ngoại giao lại góp phần tranh thủ dư luận quốc tế, cô lập Mĩ và hỗ trợ các mặt trận khác.
a) Đúng. Đấu tranh ngoại giao của Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ rất linh hoạt. Ta biết kết hợp thắng lợi quân sự với đàm phán, từng bước buộc Mĩ xuống thang, từ chỗ không chấp nhận đàm phán đến chấp nhận thương lượng và kí Hiệp định Pari. Điều đó thể hiện sự khôn khéo, biết tranh thủ thời cơ của ngoại giao Việt Nam.
b) Sai. “Ngoại giao bóng bàn” là một biểu hiện trong quan hệ Mĩ - Trung đầu những năm 70, không phải công cụ giúp Mĩ cô lập triệt để cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Trên thực tế, cuộc kháng chiến của Việt Nam vẫn nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và nhân dân tiến bộ thế giới.
c) Đúng. Từ kinh nghiệm Hội nghị Giơnevơ năm 1954, Việt Nam chú trọng hơn đến việc trực tiếp đàm phán với đối phương chính. Tại Hội nghị Pari, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trực tiếp đàm phán với Mĩ về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
d) Đúng. Đấu tranh tại Hội nghị Pari là đỉnh cao của sự phối hợp giữa quân sự, chính trị và ngoại giao. Thắng lợi quân sự trên chiến trường tạo thế mạnh cho ngoại giao; ngoại giao lại góp phần tranh thủ dư luận quốc tế, cô lập Mĩ và hỗ trợ các mặt trận khác.
a) Đúng. Đấu tranh ngoại giao của Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ rất linh hoạt. Ta biết kết hợp thắng lợi quân sự với đàm phán, từng bước buộc Mĩ xuống thang, từ chỗ không chấp nhận đàm phán đến chấp nhận thương lượng và kí Hiệp định Pari. Điều đó thể hiện sự khôn khéo, biết tranh thủ thời cơ của ngoại giao Việt Nam.
b) Sai. “Ngoại giao bóng bàn” là một biểu hiện trong quan hệ Mĩ - Trung đầu những năm 70, không phải công cụ giúp Mĩ cô lập triệt để cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Trên thực tế, cuộc kháng chiến của Việt Nam vẫn nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và nhân dân tiến bộ thế giới.
c) Đúng. Từ kinh nghiệm Hội nghị Giơnevơ năm 1954, Việt Nam chú trọng hơn đến việc trực tiếp đàm phán với đối phương chính. Tại Hội nghị Pari, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trực tiếp đàm phán với Mĩ về việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
d) Đúng. Đấu tranh tại Hội nghị Pari là đỉnh cao của sự phối hợp giữa quân sự, chính trị và ngoại giao. Thắng lợi quân sự trên chiến trường tạo thế mạnh cho ngoại giao; ngoại giao lại góp phần tranh thủ dư luận quốc tế, cô lập Mĩ và hỗ trợ các mặt trận khác.