Cho đoạn tư liệu sau đây:
"[...] Ý chí quyết tâm hy sinh vì nền độc lập, niềm tin sắt đá vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh làm điểm tựa cho cuộc đấu tranh ngoại giao. [...] Nhưng chiến thắng trên chiến trường tạo nên sức nặng cho tiếng nói trong thương lượng, đem lại ưu thế trong đàm phán với đối phương. Chiến thắng Điện Biên Phủ vừa đúng một ngày trước khi Hội nghị Geneva [Gio-ơ-ne-vơ] về Đông Dương nhóm họp đã nâng cao vị thế của Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã buộc chính quyền Johnson [Giôn-xơn] phải ngồi vào bàn đàm phán. Chiến thắng 'Điện Biên Phủ trên không' cuối năm 1972 đã kết thúc quá trình hòa đàm Paris [Pa-ri]."
(Vũ Dương Ninh, Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940-2020), NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 423-424)
Cho đoạn tư liệu sau đây:
"[...] Ý chí quyết tâm hy sinh vì nền độc lập, niềm tin sắt đá vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh làm điểm tựa cho cuộc đấu tranh ngoại giao. [...] Nhưng chiến thắng trên chiến trường tạo nên sức nặng cho tiếng nói trong thương lượng, đem lại ưu thế trong đàm phán với đối phương. Chiến thắng Điện Biên Phủ vừa đúng một ngày trước khi Hội nghị Geneva [Gio-ơ-ne-vơ] về Đông Dương nhóm họp đã nâng cao vị thế của Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã buộc chính quyền Johnson [Giôn-xơn] phải ngồi vào bàn đàm phán. Chiến thắng 'Điện Biên Phủ trên không' cuối năm 1972 đã kết thúc quá trình hòa đàm Paris [Pa-ri]."
(Vũ Dương Ninh, Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940-2020), NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 423-424)
"[...] Ý chí quyết tâm hy sinh vì nền độc lập, niềm tin sắt đá vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh làm điểm tựa cho cuộc đấu tranh ngoại giao. [...] Nhưng chiến thắng trên chiến trường tạo nên sức nặng cho tiếng nói trong thương lượng, đem lại ưu thế trong đàm phán với đối phương. Chiến thắng Điện Biên Phủ vừa đúng một ngày trước khi Hội nghị Geneva [Gio-ơ-ne-vơ] về Đông Dương nhóm họp đã nâng cao vị thế của Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã buộc chính quyền Johnson [Giôn-xơn] phải ngồi vào bàn đàm phán. Chiến thắng 'Điện Biên Phủ trên không' cuối năm 1972 đã kết thúc quá trình hòa đàm Paris [Pa-ri]."
(Vũ Dương Ninh, Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940-2020), NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 423-424)
Các mệnh đề Đúng / Sai:
a)
Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương và Hiệp định Pa-ri năm 1973 về Việt Nam đều được kí kết sau khi Việt Nam giành được những thắng lợi lớn về quân sự.
b)
Theo đoạn tư liệu trên, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã buộc chính quyền Giôn-xơn phải ngồi vào bàn đàm phán ở Pa - ri.
c)
Thực tiễn 30 năm chiến tranh cách mạng và giải phóng (1945-1975) ở Việt Nam chứng tỏ đấu tranh chính trị là yếu tố trực tiếp đưa tới việc kí kết các hiệp định hòa bình.
d)
Cục diện vừa đánh, vừa đàm trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) tiếp tục được Đảng vận dụng khéo léo và thành công trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).
Đáp án chính thức: a:Đ,b:Đ,c:S,d:S
Hướng dẫn giải chi tiết
(AI giải đề cho tôi)
Câu 4 (Phần II) - Đáp án: a) Đúng, b) Đúng, c) Sai, d) Sai (khớp với đáp án DDSS trong tài liệu).
a) Đúng. Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954) được kí kết ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954); Hiệp định Pa-ri (27-1-1973) được kí kết sau chiến thắng 'Điện Biên Phủ trên không' cuối năm 1972. Cả hai đều kí kết sau những thắng lợi lớn về quân sự, đúng như tư liệu: 'chiến thắng trên chiến trường tạo nên sức nặng cho tiếng nói trong thương lượng'.
b) Đúng. Tư liệu ghi rõ: 'Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã buộc chính quyền Johnson [Giôn-xơn] phải ngồi vào bàn đàm phán' - tức đàm phán ở Pa-ri (Hội nghị Pa-ri về Việt Nam bắt đầu từ tháng 5-1968).
c) Sai. Thực tiễn 1945-1975 chứng tỏ chính những thắng lợi quân sự (Điện Biên Phủ 1954, Tết Mậu Thân 1968, 'Điện Biên Phủ trên không' 1972) là yếu tố trực tiếp tạo ưu thế, buộc đối phương kí kết các hiệp định, chứ không phải đấu tranh chính trị.
d) Sai. Cục diện 'vừa đánh, vừa đàm' chỉ được Đảng vận dụng trong giai đoạn cuối kháng chiến chống Mỹ (từ 1968 khi mở mặt trận ngoại giao ở Pa-ri), không phải 'trong suốt' cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975).
a) (AI giải đề cho tôi)
Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 kí kết sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954); Hiệp định Pa-ri 1973 kí kết sau chiến thắng 'Điện Biên Phủ trên không' cuối năm 1972.
b) (AI giải đề cho tôi)
Tư liệu ghi rõ Tết Mậu Thân 1968 buộc chính quyền Giôn-xơn phải ngồi vào bàn đàm phán (ở Pa-ri).
c) (AI giải đề cho tôi)
Chính thắng lợi quân sự là yếu tố trực tiếp tạo sức nặng và ưu thế trong đàm phán, dẫn tới kí kết các hiệp định, không phải đấu tranh chính trị.
d) (AI giải đề cho tôi)
Cục diện vừa đánh, vừa đàm chỉ được vận dụng trong giai đoạn cuối kháng chiến chống Mỹ (từ 1968), không phải trong suốt giai đoạn 1954-1975.
Câu 4 (Phần II) - Đáp án: a) Đúng, b) Đúng, c) Sai, d) Sai (khớp với đáp án DDSS trong tài liệu).
a) Đúng. Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954) được kí kết ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954); Hiệp định Pa-ri (27-1-1973) được kí kết sau chiến thắng 'Điện Biên Phủ trên không' cuối năm 1972. Cả hai đều kí kết sau những thắng lợi lớn về quân sự, đúng như tư liệu: 'chiến thắng trên chiến trường tạo nên sức nặng cho tiếng nói trong thương lượng'.
b) Đúng. Tư liệu ghi rõ: 'Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã buộc chính quyền Johnson [Giôn-xơn] phải ngồi vào bàn đàm phán' - tức đàm phán ở Pa-ri (Hội nghị Pa-ri về Việt Nam bắt đầu từ tháng 5-1968).
c) Sai. Thực tiễn 1945-1975 chứng tỏ chính những thắng lợi quân sự (Điện Biên Phủ 1954, Tết Mậu Thân 1968, 'Điện Biên Phủ trên không' 1972) là yếu tố trực tiếp tạo ưu thế, buộc đối phương kí kết các hiệp định, chứ không phải đấu tranh chính trị.
d) Sai. Cục diện 'vừa đánh, vừa đàm' chỉ được Đảng vận dụng trong giai đoạn cuối kháng chiến chống Mỹ (từ 1968 khi mở mặt trận ngoại giao ở Pa-ri), không phải 'trong suốt' cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975).
a) (AI giải đề cho tôi)
Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 kí kết sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954); Hiệp định Pa-ri 1973 kí kết sau chiến thắng 'Điện Biên Phủ trên không' cuối năm 1972.
b) (AI giải đề cho tôi)
Tư liệu ghi rõ Tết Mậu Thân 1968 buộc chính quyền Giôn-xơn phải ngồi vào bàn đàm phán (ở Pa-ri).
c) (AI giải đề cho tôi)
Chính thắng lợi quân sự là yếu tố trực tiếp tạo sức nặng và ưu thế trong đàm phán, dẫn tới kí kết các hiệp định, không phải đấu tranh chính trị.
d) (AI giải đề cho tôi)
Cục diện vừa đánh, vừa đàm chỉ được vận dụng trong giai đoạn cuối kháng chiến chống Mỹ (từ 1968), không phải trong suốt giai đoạn 1954-1975.