Cho thông tin, đoạn tư liệu sau đây:
Lời Nhà xuất bản của cuốn sách “Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940 - 2020)” đã viết:
“Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nền ngoại giao cách mạng Việt Nam đã trở thành “một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược”, sát cánh cùng mặt trận quân sự để đưa kháng chiến đi đến thắng lợi. Đối ngoại đã đi tiên phong trong việc tạo ra một mặt trận quốc tế, ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; kiên trì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh pháp lý, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mở rộng quan hệ với các nước dân tộc chủ nghĩa, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Chiến thắng của ngoại giao trên bàn đàm phán ở Geneva (Thụy Sĩ) năm 1954 và ở Paris (Pháp) năm 1973 là những dấu mốc quan trọng trên chặng đường giành lại độc lập dân tộc và thống nhất đất nước”.
(Vũ Dương Ninh: Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940 - 2020), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.5)
Cho thông tin, đoạn tư liệu sau đây:
Lời Nhà xuất bản của cuốn sách “Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940 - 2020)” đã viết:
“Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nền ngoại giao cách mạng Việt Nam đã trở thành “một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược”, sát cánh cùng mặt trận quân sự để đưa kháng chiến đi đến thắng lợi. Đối ngoại đã đi tiên phong trong việc tạo ra một mặt trận quốc tế, ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; kiên trì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh pháp lý, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mở rộng quan hệ với các nước dân tộc chủ nghĩa, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Chiến thắng của ngoại giao trên bàn đàm phán ở Geneva (Thụy Sĩ) năm 1954 và ở Paris (Pháp) năm 1973 là những dấu mốc quan trọng trên chặng đường giành lại độc lập dân tộc và thống nhất đất nước”.
(Vũ Dương Ninh: Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940 - 2020), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.5)
Lời Nhà xuất bản của cuốn sách “Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940 - 2020)” đã viết:
“Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nền ngoại giao cách mạng Việt Nam đã trở thành “một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược”, sát cánh cùng mặt trận quân sự để đưa kháng chiến đi đến thắng lợi. Đối ngoại đã đi tiên phong trong việc tạo ra một mặt trận quốc tế, ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; kiên trì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh pháp lý, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mở rộng quan hệ với các nước dân tộc chủ nghĩa, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Chiến thắng của ngoại giao trên bàn đàm phán ở Geneva (Thụy Sĩ) năm 1954 và ở Paris (Pháp) năm 1973 là những dấu mốc quan trọng trên chặng đường giành lại độc lập dân tộc và thống nhất đất nước”.
(Vũ Dương Ninh: Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam (1940 - 2020), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.5)
Các mệnh đề Đúng / Sai:
a)
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đấu tranh ngoại giao đã đi tiên phong trong việc tạo ra một mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam, tạo tiền đề đưa đến sự thống nhất về tổ chức giữa mặt trận quốc tế với các mặt trận dân tộc thống nhất ở trong nước.
b)
Tranh thủ được sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em là một trong những thành công của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam thời kì 1945 – 1975.
c)
Cuộc đấu tranh của Việt Nam với các thế lực ngoại xâm ở Hội nghị Giơ-ne-vơ (Geneva) và Hội nghị Pa-ri (Paris) đều có sự kết hợp với đấu tranh quân sự, đồng thời tập trung thảo luận về các vấn đề: chủ quyền quốc gia, quân đội nước ngoài, đóng góp của đấu tranh ngoại giao đối với việc chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình.
d)
So với Hiệp định Giơ-ne-vơ (Geneva), Hiệp định Pa-ri (Paris) đánh dấu bước tiến mới của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam vì đã buộc các bên tham gia đàm phán phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và thừa nhận địa vị pháp lý của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Đáp án chính thức: a:S,b:Đ,c:S,d:S
Hướng dẫn giải chi tiết
a) Sai. Tư liệu cho biết ngoại giao Việt Nam tạo ra mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân tiến bộ thế giới, nhưng không có chuyện tiến tới “thống nhất về tổ chức” giữa mặt trận quốc tế và các mặt trận dân tộc thống nhất trong nước. Đây là hai phạm vi hoạt động khác nhau.
b) Đúng. Tư liệu nói trực tiếp: tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Trong hai cuộc kháng chiến, nguồn ủng hộ quốc tế này có ý nghĩa rất quan trọng về chính trị, ngoại giao, vật chất, tinh thần.
c) Sai. Đúng là cả Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hội nghị Pa-ri đều có sự kết hợp giữa quân sự + chính trị + ngoại giao. Tuy nhiên nhận định đã ghép thêm nội dung không chính xác khi coi “đóng góp của đấu tranh ngoại giao” là một vấn đề mà các bên tập trung thảo luận tại hội nghị. Các hội nghị tập trung giải quyết những vấn đề thực tế của chiến tranh và hòa bình, không phải đánh giá vai trò của đấu tranh ngoại giao.
d) Sai. Hiệp định Pa-ri năm 1973 buộc Mỹ và quân đồng minh của Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Không thể nói rằng tất cả “các bên tham gia đàm phán phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam”. Cách diễn đạt đã mở rộng đối tượng không đúng.
a) Tư liệu cho biết ngoại giao Việt Nam: tạo ra mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam; tranh thủ sự đồng tình của nhân dân tiến bộ thế giới. Nhưng không có chuyện tiến tới “thống nhất về tổ chức” giữa mặt trận quốc tế và các mặt trận dân tộc thống nhất trong nước. Đây là hai phạm vi hoạt động khác nhau. → Sai.
b) Tư liệu nói trực tiếp: tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Trong hai cuộc kháng chiến, nguồn ủng hộ quốc tế này có ý nghĩa rất quan trọng về: chính trị; ngoại giao; vật chất; tinh thần. → Đúng.
c) Đúng là cả Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hội nghị Pa-ri đều có sự kết hợp giữa: quân sự + chính trị + ngoại giao. Tuy nhiên nhận định đã ghép thêm nội dung không chính xác khi coi “đóng góp của đấu tranh ngoại giao” là một vấn đề mà các bên tập trung thảo luận tại hội nghị. Các hội nghị tập trung giải quyết những vấn đề thực tế của chiến tranh và hòa bình, không phải đánh giá vai trò của đấu tranh ngoại giao. → Sai.
d) Hiệp định Pa-ri năm 1973 buộc Mỹ và quân đồng minh của Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Không thể nói rằng tất cả “các bên tham gia đàm phán phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam”. Cách diễn đạt đã mở rộng đối tượng không đúng. → Sai.
b) Đúng. Tư liệu nói trực tiếp: tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Trong hai cuộc kháng chiến, nguồn ủng hộ quốc tế này có ý nghĩa rất quan trọng về chính trị, ngoại giao, vật chất, tinh thần.
c) Sai. Đúng là cả Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hội nghị Pa-ri đều có sự kết hợp giữa quân sự + chính trị + ngoại giao. Tuy nhiên nhận định đã ghép thêm nội dung không chính xác khi coi “đóng góp của đấu tranh ngoại giao” là một vấn đề mà các bên tập trung thảo luận tại hội nghị. Các hội nghị tập trung giải quyết những vấn đề thực tế của chiến tranh và hòa bình, không phải đánh giá vai trò của đấu tranh ngoại giao.
d) Sai. Hiệp định Pa-ri năm 1973 buộc Mỹ và quân đồng minh của Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Không thể nói rằng tất cả “các bên tham gia đàm phán phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam”. Cách diễn đạt đã mở rộng đối tượng không đúng.
a) Tư liệu cho biết ngoại giao Việt Nam: tạo ra mặt trận quốc tế ủng hộ Việt Nam; tranh thủ sự đồng tình của nhân dân tiến bộ thế giới. Nhưng không có chuyện tiến tới “thống nhất về tổ chức” giữa mặt trận quốc tế và các mặt trận dân tộc thống nhất trong nước. Đây là hai phạm vi hoạt động khác nhau. → Sai.
b) Tư liệu nói trực tiếp: tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Trong hai cuộc kháng chiến, nguồn ủng hộ quốc tế này có ý nghĩa rất quan trọng về: chính trị; ngoại giao; vật chất; tinh thần. → Đúng.
c) Đúng là cả Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 và Hội nghị Pa-ri đều có sự kết hợp giữa: quân sự + chính trị + ngoại giao. Tuy nhiên nhận định đã ghép thêm nội dung không chính xác khi coi “đóng góp của đấu tranh ngoại giao” là một vấn đề mà các bên tập trung thảo luận tại hội nghị. Các hội nghị tập trung giải quyết những vấn đề thực tế của chiến tranh và hòa bình, không phải đánh giá vai trò của đấu tranh ngoại giao. → Sai.
d) Hiệp định Pa-ri năm 1973 buộc Mỹ và quân đồng minh của Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Không thể nói rằng tất cả “các bên tham gia đàm phán phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam”. Cách diễn đạt đã mở rộng đối tượng không đúng. → Sai.