Tiến hành bốn thí nghiệm sau:
- Thí nghiệm (1): Nhúng thanh Fe vào dung dịch FeCl;
- Thí nghiệm (2): Nhúng thanh Fe vào dung dịch CuSO;
- Thí nghiệm (3): Nhúng thanh Cu trong dung dịch Fe(SO) có nhỏ vài giọt dung dịch HSO loãng;
- Thí nghiệm (4): Cho thanh Fe tiếp xúc với thanh Cu rồi nhúng vào dung dịch HCl.
Các thí nghiệm xuất hiện ăn mòn điện hoá là:
Tiến hành bốn thí nghiệm sau:
- Thí nghiệm (1): Nhúng thanh Fe vào dung dịch FeCl;
- Thí nghiệm (2): Nhúng thanh Fe vào dung dịch CuSO;
- Thí nghiệm (3): Nhúng thanh Cu trong dung dịch Fe(SO) có nhỏ vài giọt dung dịch HSO loãng;
- Thí nghiệm (4): Cho thanh Fe tiếp xúc với thanh Cu rồi nhúng vào dung dịch HCl.
Các thí nghiệm xuất hiện ăn mòn điện hoá là:
- Thí nghiệm (1): Nhúng thanh Fe vào dung dịch FeCl;
- Thí nghiệm (2): Nhúng thanh Fe vào dung dịch CuSO;
- Thí nghiệm (3): Nhúng thanh Cu trong dung dịch Fe(SO) có nhỏ vài giọt dung dịch HSO loãng;
- Thí nghiệm (4): Cho thanh Fe tiếp xúc với thanh Cu rồi nhúng vào dung dịch HCl.
Các thí nghiệm xuất hiện ăn mòn điện hoá là:
Chọn một phương án bên dưới để kiểm tra đáp án ngay:
Đáp án chính thức: B
Hướng dẫn giải chi tiết
(AI giải đề cho tôi)
Ăn mòn điện hoá xảy ra khi kim loại bị ăn mòn do tạo thành cặp điện cực (hai kim loại tiếp xúc hoặc kim loại tiếp xúc với muối kim loại khác tạo pin nhỏ). Thí nghiệm (2): Fe nhúng vào dung dịch CuSO4, Fe đẩy Cu ra: Fe + Cu2+ → Fe2+ + Cu; Cu bám trên bề mặt thanh Fe tạo cặp điện cực Fe–Cu trong môi trường điện phân → ăn mòn điện hoá. Thí nghiệm (4): Fe tiếp xúc Cu nhúng vào HCl tạo pin nội bộ, Fe là cực âm bị ăn mòn: Fe → Fe2+ + 2e; trên cực dương (Cu): 2H+ + 2e → H2 → ăn mòn điện hoá. Thí nghiệm (1): Fe tan trong FeCl3 là phản ứng hoá học trực tiếp (Fe + 2Fe3+ → 3Fe2+), không tạo cặp điện cực → không phải ăn mòn điện hoá. Thí nghiệm (3): Cu tan trong Fe2(SO4)3 (Cu + 2Fe3+ → Cu2+ + 2Fe2+) là ăn mòn hoá học, không có cặp điện cực. Vậy các thí nghiệm có ăn mòn điện hoá là (2), (4) → đáp án B, trùng với đáp án nguồn (7.B).
Ăn mòn điện hoá xảy ra khi kim loại bị ăn mòn do tạo thành cặp điện cực (hai kim loại tiếp xúc hoặc kim loại tiếp xúc với muối kim loại khác tạo pin nhỏ). Thí nghiệm (2): Fe nhúng vào dung dịch CuSO4, Fe đẩy Cu ra: Fe + Cu2+ → Fe2+ + Cu; Cu bám trên bề mặt thanh Fe tạo cặp điện cực Fe–Cu trong môi trường điện phân → ăn mòn điện hoá. Thí nghiệm (4): Fe tiếp xúc Cu nhúng vào HCl tạo pin nội bộ, Fe là cực âm bị ăn mòn: Fe → Fe2+ + 2e; trên cực dương (Cu): 2H+ + 2e → H2 → ăn mòn điện hoá. Thí nghiệm (1): Fe tan trong FeCl3 là phản ứng hoá học trực tiếp (Fe + 2Fe3+ → 3Fe2+), không tạo cặp điện cực → không phải ăn mòn điện hoá. Thí nghiệm (3): Cu tan trong Fe2(SO4)3 (Cu + 2Fe3+ → Cu2+ + 2Fe2+) là ăn mòn hoá học, không có cặp điện cực. Vậy các thí nghiệm có ăn mòn điện hoá là (2), (4) → đáp án B, trùng với đáp án nguồn (7.B).