Một nhóm học sinh thảo luận thiết kế phương án đo nhiệt dung riêng của nước theo phương án sau: Một ống dẫn nước bên trong có dây điện trở được nối với một nguồn điện, một biến trở, ampe kế và vôn kế như hình vẽ. Nhiệt độ của nước đi vào ống và nước đi ra khỏi ống được xác định bằng hai nhiệt kế. Ở đầu vào của ống có van khóa để điều chỉnh lưu lượng nước chảy trong ống.

Nhóm học sinh cho rằng: Khi công suất tỏa nhiệt trên dây điện trở thay đổi mà độ chênh lệch nhiệt độ của nước ở đầu vào và nhiệt độ nước ở đầu ra của ống dẫn nước được giữ không đổi thì sẽ xác định được nhiệt dung riêng của nước c mà không cần xác định nhiệt lượng nước tỏa ra môi trường.
Quá trình thí nghiệm của nhóm học sinh theo các bước sau:
- Bước 1: Cho nước chảy vào ống với lưu lượng μ1 (kg/s), đóng khóa K, ghi nhận nhiệt độ của nước đi vào ống T1 và nước đi ra khỏi ống T2; ghi nhận số chỉ vôn kế U1 và số chỉ ampe kế I1.
- Bước 2: Thay đổi biến trở để số chỉ vôn kế tăng lên U2, ghi nhận lại số chỉ ampe kế I2. Sau đó, điều chỉnh van khóa để thay đổi lưu lượng nước chảy qua ống μ2 (kg/s) sao cho nhiệt độ nước chảy ra vẫn có nhiệt độ T2 như ban đầu.
Biết rằng công suất tỏa nhiệt của nước ra môi trường qua ống thủy tinh tỉ lệ thuận với độ chênh lệch nhiệt độ giữa thành trong Ttrong (với Ttrong=2T1+T2) và thành ngoài ống Tngoaˋi (nhiệt độ môi trường).