Sự kết hợp giữa aspartic acid và phenylalanine tạo thành peptide, peptide này có thể được chuyển đổi thành methyl ester gọi là aspartame. Công thức của aspatic acid, phenylalanine, aspartame được cho sau đây:
[Hình cần kiểm tra lại: p20_f1]
Aspartame có vị ngọt nên được sử dụng trong thực phẩm không đường dành cho người bị tiểu đường. Ở nhiệt độ cao aspartame bị phân hủy tạo các amino acid tự do không có vị ngọt.
Sự kết hợp giữa aspartic acid và phenylalanine tạo thành peptide, peptide này có thể được chuyển đổi thành methyl ester gọi là aspartame. Công thức của aspatic acid, phenylalanine, aspartame được cho sau đây:
[Hình cần kiểm tra lại: p20_f1]
Aspartame có vị ngọt nên được sử dụng trong thực phẩm không đường dành cho người bị tiểu đường. Ở nhiệt độ cao aspartame bị phân hủy tạo các amino acid tự do không có vị ngọt.
[Hình cần kiểm tra lại: p20_f1]
Aspartame có vị ngọt nên được sử dụng trong thực phẩm không đường dành cho người bị tiểu đường. Ở nhiệt độ cao aspartame bị phân hủy tạo các amino acid tự do không có vị ngọt.
Các mệnh đề Đúng / Sai:
a)
Tên thay thế của aspartic acid là 2-aminobutane-1,4-dioic acid.
b)
Tại , khi đặt vào một điện trường, aspatic acid di chuyển về phía cực dương.
c)
Số nguyên tử hydrogen trong phân tử aspartame là 18.
d)
Có thể sử dụng aspartame để thay thế đường saccharose trong làm các loại bánh nướng.
Đáp án chính thức: a:Đ,b:Đ,c:Đ,d:S
Hướng dẫn giải chi tiết
(AI giải đề cho tôi)
a) Đúng. Aspartic acid có cấu trúc HOOC–CH2–CH(NH2)–COOH: mạch chính 4 carbon, hai nhóm carboxyl ở vị trí 1 và 4, nhóm amino ở vị trí 2, nên tên thay thế là 2-aminobutane-1,4-dioic acid.
b) Đúng. Aspartic acid có pI ≈ 3,0. Ở pH = 7,0 > pI, phân tử mất proton tồn tại chủ yếu dạng anion (mang điện âm), nên khi đặt vào điện trường nó di chuyển về phía cực dương (anode).
c) Đúng. Aspartame là methyl ester của dipeptide Asp–Phe, công thức phân tử C14H18N2O5, vậy số nguyên tử hydrogen là 18. Kiểm tra: Asp (C4H7NO4) + Phe (C9H11NO2) – H2O + CH3OH (ester hóa) = C14H18N2O5, khớp.
d) Sai. Theo đề bài, ở nhiệt độ cao aspartame bị phân hủy tạo các amino acid tự do không có vị ngọt, trong khi nướng bánh cần nhiệt độ cao, nên không thể thay thế saccharose trong làm bánh nướng.
a) (AI giải đề cho tôi)
Aspartic acid HOOC–CH2–CH(NH2)–COOH: 4 carbon mạch chính, 2 nhóm COOH ở 1 và 4, NH2 ở vị trí 2 → 2-aminobutane-1,4-dioic acid, đúng.
b) (AI giải đề cho tôi)
pH = 7,0 > pI ≈ 3,0 nên aspartic acid tồn tại dạng anion, di chuyển về cực dương (anode) trong điện trường, đúng.
c) (AI giải đề cho tôi)
Aspartame có công thức C14H18N2O5, chứa 18 nguyên tử hydrogen, đúng.
d) (AI giải đề cho tôi)
Ở nhiệt độ cao aspartame bị phân hủy thành amino acid không có vị ngọt, không phù hợp để nướng bánh, sai.
a) Đúng. Aspartic acid có cấu trúc HOOC–CH2–CH(NH2)–COOH: mạch chính 4 carbon, hai nhóm carboxyl ở vị trí 1 và 4, nhóm amino ở vị trí 2, nên tên thay thế là 2-aminobutane-1,4-dioic acid.
b) Đúng. Aspartic acid có pI ≈ 3,0. Ở pH = 7,0 > pI, phân tử mất proton tồn tại chủ yếu dạng anion (mang điện âm), nên khi đặt vào điện trường nó di chuyển về phía cực dương (anode).
c) Đúng. Aspartame là methyl ester của dipeptide Asp–Phe, công thức phân tử C14H18N2O5, vậy số nguyên tử hydrogen là 18. Kiểm tra: Asp (C4H7NO4) + Phe (C9H11NO2) – H2O + CH3OH (ester hóa) = C14H18N2O5, khớp.
d) Sai. Theo đề bài, ở nhiệt độ cao aspartame bị phân hủy tạo các amino acid tự do không có vị ngọt, trong khi nướng bánh cần nhiệt độ cao, nên không thể thay thế saccharose trong làm bánh nướng.
a) (AI giải đề cho tôi)
Aspartic acid HOOC–CH2–CH(NH2)–COOH: 4 carbon mạch chính, 2 nhóm COOH ở 1 và 4, NH2 ở vị trí 2 → 2-aminobutane-1,4-dioic acid, đúng.
b) (AI giải đề cho tôi)
pH = 7,0 > pI ≈ 3,0 nên aspartic acid tồn tại dạng anion, di chuyển về cực dương (anode) trong điện trường, đúng.
c) (AI giải đề cho tôi)
Aspartame có công thức C14H18N2O5, chứa 18 nguyên tử hydrogen, đúng.
d) (AI giải đề cho tôi)
Ở nhiệt độ cao aspartame bị phân hủy thành amino acid không có vị ngọt, không phù hợp để nướng bánh, sai.