Dầu thô là một hỗn hợp phức tạp, chủ yếu gồm các hydrocarbon và một lượng nhỏ các hợp chất chứa các nguyên tố sulfur, nitrogen, oxygen. Dựa vào hàm lượng sulfur, dầu thô được phân loại như sau:
• Dầu “ngọt”: hàm lượng sulfur < 0,5\% khối lượng.
• Dầu “chua”: hàm lượng sulfur > 2,0\% khối lượng.
Trong công nghiệp, dầu thô được chế biến bằng phương pháp chưng cất phân đoạn để thu các sản phẩm khác nhau. Khoảng nhiệt độ sôi của một số sản phẩm chưng cất phân đoạn ở áp suất thường như sau:
Sản phẩm Xăng Dầu hỏa Dầu diesel Dầu đốt Khoảng nhiệt độ sôi (°C) 38-205 180-260 200-350 ~600
Một nhà máy khi chưng cất 500 tấn dầu thô thì có 15\% khối lượng dầu thô chuyển thành xăng và 60\% khối lượng dầu thô chuyển thành dầu đốt. Toàn bộ lượng dầu đốt này tiếp tục được xử lí bằng quá trình cracking thì thu được lượng xăng có khối lượng bằng 50\% khối lượng dầu đốt. Tổng khối lượng xăng thu được sau hai giai đoạn trên là m tấn.
Dầu thô là một hỗn hợp phức tạp, chủ yếu gồm các hydrocarbon và một lượng nhỏ các hợp chất chứa các nguyên tố sulfur, nitrogen, oxygen. Dựa vào hàm lượng sulfur, dầu thô được phân loại như sau:
• Dầu “ngọt”: hàm lượng sulfur < 0,5\% khối lượng.
• Dầu “chua”: hàm lượng sulfur > 2,0\% khối lượng.
Trong công nghiệp, dầu thô được chế biến bằng phương pháp chưng cất phân đoạn để thu các sản phẩm khác nhau. Khoảng nhiệt độ sôi của một số sản phẩm chưng cất phân đoạn ở áp suất thường như sau:
Một nhà máy khi chưng cất 500 tấn dầu thô thì có 15\% khối lượng dầu thô chuyển thành xăng và 60\% khối lượng dầu thô chuyển thành dầu đốt. Toàn bộ lượng dầu đốt này tiếp tục được xử lí bằng quá trình cracking thì thu được lượng xăng có khối lượng bằng 50\% khối lượng dầu đốt. Tổng khối lượng xăng thu được sau hai giai đoạn trên là m tấn.
• Dầu “ngọt”: hàm lượng sulfur < 0,5\% khối lượng.
• Dầu “chua”: hàm lượng sulfur > 2,0\% khối lượng.
Trong công nghiệp, dầu thô được chế biến bằng phương pháp chưng cất phân đoạn để thu các sản phẩm khác nhau. Khoảng nhiệt độ sôi của một số sản phẩm chưng cất phân đoạn ở áp suất thường như sau:
| Sản phẩm | Xăng | Dầu hỏa | Dầu diesel | Dầu đốt |
|---|---|---|---|---|
| Khoảng nhiệt độ sôi (°C) | 38-205 | 180-260 | 200-350 | ~600 |
Một nhà máy khi chưng cất 500 tấn dầu thô thì có 15\% khối lượng dầu thô chuyển thành xăng và 60\% khối lượng dầu thô chuyển thành dầu đốt. Toàn bộ lượng dầu đốt này tiếp tục được xử lí bằng quá trình cracking thì thu được lượng xăng có khối lượng bằng 50\% khối lượng dầu đốt. Tổng khối lượng xăng thu được sau hai giai đoạn trên là m tấn.
Các mệnh đề Đúng / Sai:
a)
Trong quá trình chưng cất, sản phẩm xăng khó bay hơi hơn sản phẩm dầu diesel.
b)
Giá trị của m là 225.
c)
Kết quả phân tích 11,5 mL một mẫu dầu thô (khối lượng riêng là 0,87 g/mL) thu được 3,6 mg sulfur. Mẫu dầu thô này thuộc loại dầu “chua”.
d)
Trong chế biến dầu mỏ, người ta thực hiện quá trình cracking để chuyển đổi dầu đốt thành các sản phẩm như xăng, dầu diesel.
Đáp án chính thức: a:S,b:Đ,c:S,d:Đ
Hướng dẫn giải chi tiết
a) Sai. Xăng có nhiệt độ sôi thấp hơn dầu diesel nên dễ bay hơi hơn. b) Đúng. m = 500 . 15\% + 500 . 60\% . 50\% = 75 + 150 = 225 tấn. c) Sai. \%S = 0,0036 / 10,005 . 100\% ≈ 0,036\% < 0,5\%, mẫu dầu thuộc loại dầu “ngọt”. d) Đúng. Cracking chuyển dầu đốt thành xăng, dầu diesel.
a) Sai. Xăng có khoảng nhiệt độ sôi 38-205°C, dầu diesel có khoảng nhiệt độ sôi 200-350°C. Xăng có nhiệt độ sôi thấp hơn nên dễ bay hơi hơn dầu diesel.
b) Đúng. Khối lượng xăng thu được khi chưng cất: 500 . 15\% = 75 tấn. Khối lượng dầu đốt: 500 . 60\% = 300 tấn. Cracking dầu đốt thu được xăng bằng 50\% khối lượng dầu đốt: 300 . 50\% = 150 tấn. Tổng khối lượng xăng: m = 75 + 150 = 225 tấn.
c) Sai. Khối lượng mẫu dầu: m = 11,5 . 0,87 = 10,005 g. Khối lượng sulfur: 3,6 mg = 0,0036 g. Phần trăm sulfur: \%S = 0,0036 / 10,005 . 100\% ≈ 0,036\%. Vì 0,036\% < 0,5\%, mẫu dầu này thuộc loại dầu “ngọt”, không phải dầu “chua”.
d) Đúng. Cracking dùng để bẻ gãy các hydrocarbon phân tử lớn trong dầu đốt thành các hydrocarbon nhỏ hơn, có giá trị hơn như xăng, dầu diesel.
a) Sai. Xăng có khoảng nhiệt độ sôi 38-205°C, dầu diesel có khoảng nhiệt độ sôi 200-350°C. Xăng có nhiệt độ sôi thấp hơn nên dễ bay hơi hơn dầu diesel.
b) Đúng. Khối lượng xăng thu được khi chưng cất: 500 . 15\% = 75 tấn. Khối lượng dầu đốt: 500 . 60\% = 300 tấn. Cracking dầu đốt thu được xăng bằng 50\% khối lượng dầu đốt: 300 . 50\% = 150 tấn. Tổng khối lượng xăng: m = 75 + 150 = 225 tấn.
c) Sai. Khối lượng mẫu dầu: m = 11,5 . 0,87 = 10,005 g. Khối lượng sulfur: 3,6 mg = 0,0036 g. Phần trăm sulfur: \%S = 0,0036 / 10,005 . 100\% ≈ 0,036\%. Vì 0,036\% < 0,5\%, mẫu dầu này thuộc loại dầu “ngọt”, không phải dầu “chua”.
d) Đúng. Cracking dùng để bẻ gãy các hydrocarbon phân tử lớn trong dầu đốt thành các hydrocarbon nhỏ hơn, có giá trị hơn như xăng, dầu diesel.