(Hóa 12 - Chương 6) Tiến hành các thí nghiệm sau:
- TN: Cho hơi nước đi qua ống đựng bột sắt nung nóng;
- TN: Cho đinh sắt nguyên chất vào dung dịch HSO loãng có nhỏ thêm vài giọt dung dịch CuSO;
- TN: Cho từng giọt dung dịch Fe(NO) vào dung dịch AgNO;
- TN: Để thanh thép (hợp kim của sắt với cacbon) trong không khí ẩm;
- TN: Nhúng lá kẽm nguyên chất vào dung dịch CuSO;
- TN: Nối 2 đầu dây điện nhôm và đồng để trong không khí ẩm.
Số trường hợp xảy ra ăn mòn điện hóa học là
(Hóa 12 - Chương 6) Tiến hành các thí nghiệm sau:
- TN: Cho hơi nước đi qua ống đựng bột sắt nung nóng;
- TN: Cho đinh sắt nguyên chất vào dung dịch HSO loãng có nhỏ thêm vài giọt dung dịch CuSO;
- TN: Cho từng giọt dung dịch Fe(NO) vào dung dịch AgNO;
- TN: Để thanh thép (hợp kim của sắt với cacbon) trong không khí ẩm;
- TN: Nhúng lá kẽm nguyên chất vào dung dịch CuSO;
- TN: Nối 2 đầu dây điện nhôm và đồng để trong không khí ẩm.
Số trường hợp xảy ra ăn mòn điện hóa học là
- TN: Cho hơi nước đi qua ống đựng bột sắt nung nóng;
- TN: Cho đinh sắt nguyên chất vào dung dịch HSO loãng có nhỏ thêm vài giọt dung dịch CuSO;
- TN: Cho từng giọt dung dịch Fe(NO) vào dung dịch AgNO;
- TN: Để thanh thép (hợp kim của sắt với cacbon) trong không khí ẩm;
- TN: Nhúng lá kẽm nguyên chất vào dung dịch CuSO;
- TN: Nối 2 đầu dây điện nhôm và đồng để trong không khí ẩm.
Số trường hợp xảy ra ăn mòn điện hóa học là
Chọn một phương án bên dưới để kiểm tra đáp án ngay:
Đáp án chính thức: A
Hướng dẫn giải chi tiết
(AI giải đề cho tôi)
Ăn mòn điện hóa học xảy ra khi kim loại bị phá hủy do tạo thành pin với kim loại khác (hoặc cacbon) trong môi trường dẫn điện. - TN1: Fe + H2O → Fe3O4 + H2 là ăn mòn hóa học (không có dung dịch điện ly), không tính. - TN2: đinh sắt có lớp Cu bám do Fe + CuSO4, tạo cặp Fe–Cu trong H2SO4 loãng → ăn mòn điện hóa. - TN3: Fe(II) nhả electron cho Ag+ (Fe + 2Ag+ → Fe2+ + 2Ag), kim loại tan trong dung dịch muối của kim loại yếu hơn → ăn mòn điện hóa. - TN4: thép (Fe–C) trong không khí ẩm, nước là điện ly → ăn mòn điện hóa (thành catot là C). - TN5: Zn + CuSO4, cặp Zn–Cu → ăn mòn điện hóa. - TN6: cặp Al–Cu nối tiếp trong không khí ẩm → ăn mòn điện hóa. Vậy có 5 trường hợp (TN2–TN6).
Ăn mòn điện hóa học xảy ra khi kim loại bị phá hủy do tạo thành pin với kim loại khác (hoặc cacbon) trong môi trường dẫn điện. - TN1: Fe + H2O → Fe3O4 + H2 là ăn mòn hóa học (không có dung dịch điện ly), không tính. - TN2: đinh sắt có lớp Cu bám do Fe + CuSO4, tạo cặp Fe–Cu trong H2SO4 loãng → ăn mòn điện hóa. - TN3: Fe(II) nhả electron cho Ag+ (Fe + 2Ag+ → Fe2+ + 2Ag), kim loại tan trong dung dịch muối của kim loại yếu hơn → ăn mòn điện hóa. - TN4: thép (Fe–C) trong không khí ẩm, nước là điện ly → ăn mòn điện hóa (thành catot là C). - TN5: Zn + CuSO4, cặp Zn–Cu → ăn mòn điện hóa. - TN6: cặp Al–Cu nối tiếp trong không khí ẩm → ăn mòn điện hóa. Vậy có 5 trường hợp (TN2–TN6).