Một nhóm học sinh tìm hiểu về quá trình tạo acid lactic từ đường glucose thông qua lên men lactic, với giả thuyết: “Nhiệt độ càng cao thì lượng lactic acid thu được càng nhiều”. Nhóm đã thực hiện thí nghiệm như sau: • Chuẩn bị: dung dịch glucose 5%, chế phẩm vi sinh vật lên men lactic (lactobacillus), 5 ống nghiệm có nắp, bếp điều nhiệt. • Cách làm: Lấy 200 mL dung dịch glucose cho vào mỗi ống nghiệm. Thêm một ít chế phẩm vi sinh vào mỗi ống nghiệm. Đậy nắp và ủ ở các nhiệt độ: 20°C (mẫu 1), 30°C (mẫu 2), 37°C (mẫu 3), 45°C (mẫu 4), mẫu không thêm vi sinh vật (mẫu trắng). Sau 3 ngày, lấy các mẫu đem lọc sạch, để ổn định ở nhiệt độ môi trường thì thấy thể tích dung dịch trong các mẫu hầu như không thay đổi là 200 mL. Lần lượt lấy 5 mL các mẫu: mẫu trắng; các mẫu 1; 2; 3; 4 rồi pha loãng thành 100 mL và tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch NaOH 0,1 M với chỉ thị phenolphthalein. Kết quả thu được như bảng sau: Mẫu Mẫu trắng Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 3 Mẫu 4 Vdd NaOH (mL) 0,0 5,6 8,2 10,5 7,0
Biết rằng trong các mẫu chỉ có chứa CHO, CHCH(OH)COOH (lactic acid) và HO.
Một nhóm học sinh tìm hiểu về quá trình tạo acid lactic từ đường glucose thông qua lên men lactic, với giả thuyết: “Nhiệt độ càng cao thì lượng lactic acid thu được càng nhiều”. Nhóm đã thực hiện thí nghiệm như sau: • Chuẩn bị: dung dịch glucose 5%, chế phẩm vi sinh vật lên men lactic (lactobacillus), 5 ống nghiệm có nắp, bếp điều nhiệt. • Cách làm: Lấy 200 mL dung dịch glucose cho vào mỗi ống nghiệm. Thêm một ít chế phẩm vi sinh vào mỗi ống nghiệm. Đậy nắp và ủ ở các nhiệt độ: 20°C (mẫu 1), 30°C (mẫu 2), 37°C (mẫu 3), 45°C (mẫu 4), mẫu không thêm vi sinh vật (mẫu trắng). Sau 3 ngày, lấy các mẫu đem lọc sạch, để ổn định ở nhiệt độ môi trường thì thấy thể tích dung dịch trong các mẫu hầu như không thay đổi là 200 mL. Lần lượt lấy 5 mL các mẫu: mẫu trắng; các mẫu 1; 2; 3; 4 rồi pha loãng thành 100 mL và tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch NaOH 0,1 M với chỉ thị phenolphthalein. Kết quả thu được như bảng sau:
Biết rằng trong các mẫu chỉ có chứa CHO, CHCH(OH)COOH (lactic acid) và HO.
| Mẫu | Mẫu trắng | Mẫu 1 | Mẫu 2 | Mẫu 3 | Mẫu 4 |
|---|---|---|---|---|---|
| Vdd NaOH (mL) | 0,0 | 5,6 | 8,2 | 10,5 | 7,0 |
Các mệnh đề Đúng / Sai:
a)
Trong thí nghiệm trên, lượng acid lactic được tạo thành nhiều nhất trong một mẫu (200 mL) là 3,78 gam.
b)
Nếu thay dung dịch NaOH 0,1 M bằng dung dịch NaOH 0,2 M thì thể tích NaOH dùng để chuẩn độ mẫu 3 sẽ nhỏ hơn 6 mL.
c)
Từ kết quả thí nghiệm, kết luận giả thuyết của nhóm học sinh trên là đúng.
d)
Nhiệt độ tối ưu cho quá trình lên men tạo lactic acid là 37°C.
Đáp án chính thức: a:Đ,b:Đ,c:S,d:Đ
Hướng dẫn giải chi tiết
a) Đúng: Lượng lactic acid lớn nhất (mẫu 3, 37°C) là 3,78 gam. b) Đúng: Với NaOH 0,2 M, thể tích chuẩn độ mẫu 3 là 5,25 mL, nhỏ hơn 6 mL. c) Sai: Lượng lactic acid tăng từ 20°C đến 37°C nhưng giảm ở 45°C, không thể kết luận giả thuyết đúng. d) Đúng: 37°C tạo nhiều lactic acid nhất. Đáp án: Đ Đ S Đ.
a) Mẫu 3 dùng nhiều NaOH nhất nên tạo nhiều lactic acid nhất. Với mẫu 3: Lượng acid này có trong 5 mL mẫu ban đầu. Trong 200 mL mẫu ban đầu: Khối lượng lactic acid:
b) Nếu dùng NaOH 0,2 M cho mẫu 3: Nhỏ hơn 6 mL.
c) Kết quả cho thấy lượng lactic acid tăng từ 20°C đến 37°C, nhưng giảm ở 45°C. Vì vậy không thể kết luận “nhiệt độ càng cao thì lượng lactic acid càng nhiều”.
d) Trong các nhiệt độ khảo sát, 37°C tạo nhiều lactic acid nhất nên là nhiệt độ tối ưu trong thí nghiệm này.
a) Mẫu 3 dùng nhiều NaOH nhất nên tạo nhiều lactic acid nhất. Với mẫu 3: Lượng acid này có trong 5 mL mẫu ban đầu. Trong 200 mL mẫu ban đầu: Khối lượng lactic acid:
b) Nếu dùng NaOH 0,2 M cho mẫu 3: Nhỏ hơn 6 mL.
c) Kết quả cho thấy lượng lactic acid tăng từ 20°C đến 37°C, nhưng giảm ở 45°C. Vì vậy không thể kết luận “nhiệt độ càng cao thì lượng lactic acid càng nhiều”.
d) Trong các nhiệt độ khảo sát, 37°C tạo nhiều lactic acid nhất nên là nhiệt độ tối ưu trong thí nghiệm này.