Chào mừng bạn • Luyện thi trắc nghiệm trực tuyến
Hóa học • Lớp 11Đại cương Hóa hữu cơ27 câu hỏi có lời giải
Tất cả chuyên đề →

Bài Tập Trắc Nghiệm Chuyên Đề: Nhận biết và tách chất hữu cơ (Hóa học Lớp 11)

Tuyển tập 27 câu hỏi thuộc chuyên đề Nhận biết và tách chất hữu cơ (Đại cương Hóa hữu cơ – Hóa học Lớp 11) trích từ ngân hàng đề thi chính thức và đề thi thử các trường THPT trên toàn quốc. Chọn trực tiếp đáp án A, B, C, D bên dưới để kiểm tra kết quả và xem hướng dẫn giải chi tiết từng bước.

Dấu hiệu & kiến thức trọng tâm:thuốc thử đặc trưnghiện tượngchiếtchưng cất
Thực hiện các thí nghiệm được đánh số theo thứ tự sau: (1) Cho 2 mL dung dịch NaOH 10\% vào ống nghiệm, thêm 0,5 mL dung dịch 5\% vào, lắc nhẹ. Thêm tiếp 3 mL dung dịch saccharose 5\% vào ống nghiệm, lắc đều. (2) Cho khoảng 2 mL dung dịch NaOH 10\% và khoảng 0,5 mL dung dịch 5\% vào ống nghiệm, lắc nhẹ. Cho tiếp khoảng 3 mL dung dịch glucose 2\% vào ống nghiệm và lắc đều. Đun nóng nhẹ hỗn hợp trong ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn vài phút. (3) Cho khoảng 1 mL nước bromine vào ống nghiệm sau đó thêm vài giọt aniline loãng vào ống nghiệm. (4) Cho vào ống nghiệm khoảng 1 mL dung dịch trong KI và khoảng 1mL dung dịch NaOH 10\%. Nhỏ từ từ 5 giọt acetaldehyde vào ống nghiệm, lắc đều. Gắn số thứ tự của thí nghiệm trên tương ứng với các hiện tượng a, b, c, d được mô tả bên dưới: a) xuất hiện kết tủa màu vàng; b) xuất hiện dung dịch màu xanh lam; c) xuất hiện kết tủa màu trắng; d) xuất hiện kết tủa đỏ gạch.
Đáp án đúng: 4132
Đáp án: 4132
Trong công nghiệp sản xuất đường ăn từ nước ép thân cây mía người ta đã sử dụng phương pháp tách biệt và tinh chế nào sau đây?
Đáp án đúng: C
(AI giải đề cho tôi)
Trong công nghiệp sản xuất đường ăn từ nước ép thân cây mía, sau khi làm sạch và cô đặc dịch nước mía, người ta áp dụng phương pháp kết tinh để tách và tinh chế đường (sucrose) dưới dạng tinh thể. Sắc ký, chưng cất hay chiết lỏng - rắn không phải là phương pháp được dùng để tinh chế đường ăn. Đáp án khớp với đáp án nguồn (C).
Ngâm bột củ nghệ với ethanol nóng, sau đó lọc bỏ bã, lấy dung dịch đem cô để làm bay hơi bớt dung môi. Phần dung dịch còn lại sau khi cô được làm lạnh, để yên một thời gian rồi lọc lấy kết tủa curcumin màu vàng. Từ mô tả ở trên, hãy cho biết, người ta đã sử dụng các kĩ thuật tinh chế nào để lấy được curcumin từ củ nghệ?
Đáp án đúng: C
(AI giải đề cho tôi)
Ngâm bột nghệ với ethanol nóng để chiết curcumin ra khỏi nguyên liệu (kĩ thuật chiết). Sau đó cô đặc dung môi, làm lạnh để curcumin kết tinh thành kết tủa vàng rồi lọc lấy (kĩ thuật kết tinh). Không dùng chưng cất hay sắc kí. Đáp án khớp với đáp án nguồn: C.
Hình vẽ dưới đây mô tả các bước tiến hành của phương pháp tách biệt và tinh chế nào?

Hình từ đề gốc

Bước 1 Bước 2 Bước 3 Bước 4
Đáp án đúng: C
(AI giải đề cho tôi)
Hình vẽ gồm 4 bước: (1) đun nóng dung dịch trong bình cầu có gắn sinh hàn hoàn lưu để hòa tan chất rắn; (2) đổ dung dịch nóng vào bình nón; (3) để nguội, chất rắn kết tinh dưới đáy bình; (4) lọc hút chân không để thu lấy tinh thể. Đây là các bước của phương pháp kết tinh (tinh chế bằng kết tinh lại). Đáp án khớp với đáp án nguồn: C.
Cho các phát biểu sau:
(a) Ngâm hoa quả làm xiro thuộc phương pháp chiết.
(b) Làm đường từ mía thuộc phương pháp kết tinh.
(c) Nấu rượu uống thuộc phương pháp kết tinh.
(d) Phân tích thổ nhưỡng thuộc phương pháp chiết lỏng – rắn.
(e) Để phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản dùng phương pháp chưng cất.
Số phát biểu đúng là
Đáp án đúng: C
(AI giải đề cho tôi)
Xét từng phát biểu: (a) Ngâm hoa quả làm xiro là chiết bằng dung môi (đường chiết chất hòa tan từ nguyên liệu) → đúng. (b) Làm đường từ mía: nước mía được cô đặc rồi kết tinh sucrose → đúng. (c) Nấu rượu là chưng cất (tách ethanol khỏi bã nhờn độ sôi khác nhau), không phải kết tinh → sai. (d) Phân tích thổ nhưỡng dùng chiết lỏng – rắn (chiết các chất từ mẫu đất rắn bằng dung môi lỏng) → đúng. (e) Phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản dùng phương pháp chiết (thường là chiết lỏng – rắn hoặc chiết pha rắn), không phải chưng cất → sai. Vậy có 3 phát biểu đúng: (a), (b), (d).
Ngâm hoa quả làm siro thuộc loại tách biệt và tinh chế nào?
Đáp án đúng: C
(AI giải đề cho tôi)
Ngâm hoa quả trong đường để làm siro là quá trình chiết (chiết bằng dung môi/dịch đường, chất tan trong hoa quả được chiết ra). Đáp án C, khớp với đáp án nguồn trang 7.
Ngâm bột củ nghệ với ethanol nóng, sau đó lọc bỏ bã, lấy dung dịch đem cô để làm bay hơi bớt dung môi. Phần dung dịch còn lại sau khi cô được làm lạnh, để yên một thời gian rồi lọc lấy kết tủa curcumin màu vàng. Từ mô tả ở trên, hãy cho biết, người ta đã sử dụng các kĩ thuật tinh chế nào để lấy được curcumin từ củ nghệ?
Đáp án đúng: B
Đáp án B (được tô nền xanh trong bản gốc hướng dẫn giải).
Người ta thường lấy lá chè xanh rửa sạch, có thể vò nhẹ, cho vào ấm rồi đổ nước sôi, ủ từ 3 – 5 phút là có thể sử dụng được làm thức uống rất tốt cho cơ thể. Cách làm này được gọi là hãm chè, dựa trên phương pháp nào sau đây?
Đáp án đúng: A
(AI giải đề cho tôi)
Hãm chè là dùng nước sôi chiết các chất hòa tan (chất tan trong lá chè rắn) vào pha lỏng (nước) → phương pháp chiết lỏng – rắn. Các phương pháp cô đặc, kết tinh, chưng cất không phù hợp.
Cho dãy các chất: methane, ethylene, acetylene, benzene, ethyl alcohol, phenol, acetaldehyde, fructose, saccharose, aniline. Số chất trong dãy làm mất màu nước bromine là
Đáp án đúng: C
Các chất làm mất màu nước bromine bao gồm: ethylene (có liên kết đôi), acetylene (có liên kết ba), phenol (phản ứng thế vòng thơm), acetaldehyde (bị oxi hóa), và aniline (phản ứng thế vòng thơm). Tổng số là 5 chất.
Thực hiện tách hỗn hợp hexene và nước như hình vẽ sau (khối lượng riêng hexene là 0,66 g/cm³):

Hình từ đề gốc

Phát biểu nào sau đây là đúng?
Đáp án đúng: A
(AI giải đề cho tôi)
Hexene và nước không tan vào nhau nên có thể tách bằng phễu chiết (phương pháp chiết/pha tách, không phải chưng cất). Khối lượng riêng hexene (0,66 g/cm³) nhỏ hơn nước (1 g/cm³) nên hexene nằm ở lớp trên: lớp X là hexene, lớp Y là nước → C sai. Dụng cụ trong hình được ghi là phễu chiết, không phải phễu tách → B sai. Đáp án đúng là A.
Nước mía ép là dung dịch với chất tan chủ yếu là đường (còn gọi là đường kính, saccharose). Cần sử dụng phương pháp tách biệt và tinh chế nào để thu được đường kính từ nước mía?
Đáp án đúng: C
(AI giải đề cho tôi)
Nước mía là dung dịch saccharose trong nước. Để thu được đường kính, người ta cô đặc dung dịch rồi làm lạnh để đường kết tinh ra khỏi dung dịch (kết tinh là phương pháp tách chất tan rắn khỏi dung dịch dựa trên sự chênh lệch độ tan, thường dùng khi chất tan là chất rắn có độ tan thay đổi nhiều theo nhiệt độ). Chiết dùng để tách chất tan giữa hai dung môi không trộn lẫn; sắc kí cột dùng để tách các chất có độ hấp phụ khác nhau; chưng cất dùng tách dựa trên chênh lệch nhiệt độ sôi (không phù hợp vì đường bị phân hủy khi đun nóng). Vậy đáp án là C, trùng với đáp án nguồn ở trang 8.
Cho hỗn hợp các alkane có mạch carbon không phân nhánh sau: pentane (sôi ở 36°C), heptane (sôi ở 98°C) và octane (sôi ở 126°C). Có thể tách riêng các chất đó bằng phương pháp nào sau đây?
Đáp án đúng: D
(AI giải đề cho tôi)
Hỗn hợp pentane (sôi 36°C), heptane (sôi 98°C) và octane (sôi 126°C) là các chất lỏng trộn lẫn vào nhau, nhiệt độ sôi chênh lệch rõ rệt (trên 25°C giữa các cặp). Do đó có thể tách riêng từng chất bằng phương pháp chưng cất: đun nóng hỗn hợp, chất có nhiệt độ sôi thấp hơn (pentane) bay hơi trước, ngưng tụ và thu riêng, sau đó đến heptane và octane. Chiết dùng để tách chất dựa vào độ tan trong hai dung môi không trộn lẫn; kết tinh dùng cho chất rắn; bay hơi chỉ làm bay hơi hết dung môi chứ không tách riêng được các chất lỏng có nhiệt độ sôi gần nhau trong cùng hỗn hợp. Vậy đáp án là D (Chưng cất), phù hợp với đáp án được tô sáng trong tài liệu nguồn ở trang 9.
Các bộ dụng cụ đã sử dụng tương ứng với các bước khi tiến hành tinh chế chất hữu cơ X bằng phương pháp kết tinh được cho ở các hình dưới đây:

[Hình cần kiểm tra lại: p6_f2]

Sắp xếp số thứ tự các hình vẽ theo đúng trình tự thực hiện quy trình kết tinh.
Đáp án đúng: 1243
Đáp án: 1243
Ngâm rượu thuốc là phương pháp thường dùng để tách chuyển một phần chất có trong các nguyên liệu thực vật, động vật vào rượu. Phương pháp tách đó thuộc loại phương pháp nào sau đây?
Đáp án đúng: D
(AI giải đề cho tôi)
Ngâm rượu thuốc là quá trình dùng dung môi lỏng (rượu) để chiết các chất tan từ nguyên liệu ở dạng rắn (thực vật, động vật) vào rượu. Đây là phương pháp chiết lỏng – rắn, không phải chiết lỏng – lỏng (cần hai pha lỏng), kết tinh hay chưng cất. Kết quả khớp với đáp án nguồn: D.
Ngâm hoa quả làm siro thuộc loại tách biệt và tinh chế nào?
Đáp án đúng: D
(AI giải đề cho tôi)
Ngâm hoa quả làm siro là quá trình dùng dung môi (đường/nước) để chiết các chất hòa tan từ hoa quả, thuộc phương pháp chiết (dùng dung môi chiết chất tan từ hỗn hợp). Các phương pháp khác không phù hợp: sắc kí cột tách theo độ hấp phụ, chưng cất dựa trên độ sôi khác nhau, kết tinh dựa trên độ tan. Đáp án khớp với đáp án nguồn: D.
Thực hiện các thí nghiệm hóa học được đánh số thứ tự từ 1 đến 4 như sau:
(1) Cho dung dịch glucose vào ống nghiệm chứa Cu(OH).
(2) Cho dung dịch aniline loãng vào ống nghiệm chứa 1 mL dung dịch bromine.
(3) Cho dung dịch hồ tinh bột vào ống nghiệm chứa dung dịch iodine.
(4) Cho vài giọt dung dịch HNO đặc vào ống nghiệm chứa 2 mL dung dịch lòng trắng trứng.
Gán số thứ tự thí nghiệm (ví dụ: 3124, 1234, ...) theo hiện tượng quan sát được lần lượt như sau: xuất hiện kết tủa vàng, xuất hiện kết tủa trắng, xuất hiện dung dịch màu xanh tím, xuất hiện dung dịch màu xanh lam.
Đáp án đúng: 4231
Đáp án: 4231
Người ta thường lấy lá chè xanh rửa sạch, có thể vò nhẹ, cho vào ấm rồi đổ nước sôi, ủ từ 3 – 5 phút là có thể sử dụng được làm thức uống rất tốt cho cơ thể. Cách làm này được gọi là hãm chè, dựa trên phương pháp nào sau đây?
Đáp án đúng: A
(AI giải đề cho tôi)
Hãm chè là dùng nước sôi (chất lỏng) để chiết các chất hòa tan (tanin, caffeine, hương liệu...) từ lá chè (chất rắn). Đây là phương pháp chiết lỏng – rắn. Khớp với đáp án nguồn: A.
Trong các chất: ethylene, benzene, styrene, methyl acrylate, vinyl acetate, dimethyl ether, glucose. Số chất có khả năng phản ứng làm mất màu nước bromine là bao nhiêu?
Đáp án đúng: 5
(AI giải đề cho tôi)
Xét khả năng làm mất màu nước bromine của từng chất: (1) Ethylene (CH2=CH2) có liên kết đôi C=C, phản ứng cộng Br2 làm mất màu nước bromine. (2) Benzene không làm mất màu nước bromine (chỉ phản ứng với bromine có xúc tác FeBr3, không phải nước bromine). (3) Styrene (C6H5-CH=CH2) có liên kết đôi C=C bên ngoài vòng benzene, cộng Br2 làm mất màu nước bromine. (4) Methyl acrylate (CH2=CH-COOCH3) có liên kết đôi C=C, cộng Br2 làm mất màu nước bromine. (5) Vinyl acetate (CH2=CH-OCOCH3) có liên kết đôi C=C, cộng Br2 làm mất màu nước bromine. (6) Dimethyl ether (CH3-O-CH3) không có liên kết đôi, không làm mất màu nước bromine. (7) Glucose có nhóm -CHO (aldehyde), bị oxi hóa bởi bromine (Br2/H2O oxi hóa -CHO thành -COOH), làm mất màu nước bromine. Vậy các chất làm mất màu nước bromine: ethylene, styrene, methyl acrylate, vinyl acetate, glucose → tổng cộng 5 chất. Kết quả khớp với đáp án nguồn (5).
Limonene là một monoterpene lỏng không màu, là thành phần chính (chiếm khoảng 67 - 80\%) trong tinh dầu bưởi. Limonene có tác dụng giảm đau đầu, tăng cường hệ miễn dịch, khử trùng, bảo quản thực phẩm... Một nhóm học sinh thực hiện tách tinh dầu bưởi trong phòng thí nghiệm theo các bước như sau:

• Bước 1: Lấy 300 gam phần màu xanh của vỏ bưởi, cắt nhỏ, cho vào bình cầu có nhánh (không quá 2/3 dung tích bình). Cho nước vào bình cấp hơi nước và lắp dụng cụ như hình bên.

• Bước 2: Thực hiện chưng cất lôi cuốn hơi nước trong 2,5 giờ bằng cách đun sôi bình cấp hơi nước để hơi nước đi qua bình chứa vỏ bưởi, cuốn theo tinh dầu và ngưng tụ ở ống sinh hàn.

• Bước 3: Cho toàn bộ chất lỏng trong bình tam giác vào phễu chiết, thêm dung dịch NaCl bão hòa vào phễu chiết, lắc đều. Đặt phễu chiết lên giá đỡ 10 phút, tách lấy lớp tinh dầu phía trên vào bình tam giác khô.

• Bước 4: Cho vào bình tam giác chứa tinh dầu một lượng vừa đủ MgSO khan, lắc đều đến khi chất lỏng trong suốt, gạn lấy tinh dầu bưởi.

[Hình cần kiểm tra lại: p6_f1]

1. Bình cấp hơi nước.
2. Bình chứa nguyên liệu chưng cất.
a)
MgSO khan sử dụng trong bước 4 có tác dụng hút nước để làm khô tinh dầu bưởi.
b)
Ở bước 3, thêm dung dịch NaCl bão hòa vào phễu chiết là để làm tăng khả năng hòa tan của tinh dầu bưởi trong nước.
c)
Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước dùng để tách tinh dầu bưởi ra khỏi hỗn hợp do tinh dầu bưởi không tan trong nước và dễ bay hơi với hơi nước.
d)
Ở bước 3, đặt phễu chiết lên giá đỡ 10 phút nhằm mục đích để phần tinh dầu bưởi còn phân bố trong nước di chuyển xuống lớp tinh dầu ở phía dưới.
Đáp án đúng: a:Đ,b:S,c:Đ,d:S
a) Đúng. b) Sai — dung dịch NaCl bão hòa sẽ làm giảm sự hòa tan của tinh dầu, đồng thời tăng khối lượng riêng của dung dịch sẽ giúp tinh dầu tách lớp nhanh. c) Đúng. d) Sai — tinh dầu nhẹ hơn nên sẽ di chuyển lên phía trên.
a) Đúng
b) Sai. Dung dịch NaCl bão hòa sẽ làm giảm sự hòa tan của tinh dầu, đồng thời tăng khối lượng riêng của dung dịch sẽ giúp tinh dầu tách lớp nhanh.
c) Đúng
d) Sai. Tinh dầu nhẹ hơn nên sẽ di chuyển lên phía trên.

Đề thi có nhiều câu hỏi chuyên đề Nhận biết và tách chất hữu cơ

Luyện tập trong bối cảnh đề thi thật hoặc tải bản in PDF chuẩn A4 kèm lời giải.

Kho đề thi →

Các chuyên đề Hóa học liên quan

Xem tất cả chuyên đề →