a) Số tiền mà anh Huy phải trả khi mua xe ô tô là 500⋅0,68=340 (triệu đồng).
Tổng tiền lương năm đầu tiên anh Huy nhận được là T1=10⋅12=120 (triệu đồng).
Số tiền tiết kiệm được sau năm thứ hai là T2=120⋅1,12−120=120⋅0,12 (triệu đồng).
Số tiền tiết kiệm được sau năm thứ ba là T3=120⋅1,122−120⋅1,12=120⋅1,12⋅0,12 (triệu đồng).
Số tiền tiết kiệm được sau năm thứ n là
Tn=120⋅1,12n−1−120⋅1,12n−2=120⋅1,12n−2⋅0,12 (triệu đoˆˋng)
Tổng số tiền tiết kiệm của anh Huy sau năm thứ n là
T=T2+T3+…+Tn=120⋅0,12+120⋅1,12⋅0,12+…+120⋅1,12n−2⋅0,12
=120⋅0,12⋅(1+1,12+…+1,12n−2)=120⋅0,12⋅1,12−11,12n−1−1=120⋅(1,12n−1−1)
Để anh Huy đủ tiền mua xe thì
T≥340⇔120⋅(1,12n−1−1)≥340⇔n−1≥log1,12(623)⇒n≥12,8
Vậy tính từ khi đi làm, phải ít nhất 13 năm thì anh Huy mới đủ tiền mua ô tô.
b) Số phần tử của không gian mẫu là n(Ω)=C93⋅C83=84⋅56=4704.
Gọi A là biến cố “Sơn thua” tức là số của Sơn nhỏ hơn số của Hải.
Gọi bộ 3 quả bóng Hải bốc được là H={h1;h2;h3} với h1>h2>h3.
Gọi bộ 3 quả bóng Sơn bốc được là S={s1;s2;s3} với s1>s2>s3.
Số của Hải là h1h2h3, số của Sơn là s1s2s3.
Trường hợp 1: Hải bốc được quả bóng số 9. Khi đó số của Hải luôn lớn hơn của Sơn. Số cách chọn là C82⋅C83=28⋅56=1568.
Trường hợp 2: Hải không bốc được quả bóng số 9. Khi đó Hải và Sơn đều bốc 3 quả ngẫu nhiên từ tập {1;2;…;8}.
Số cách chọn là C83⋅C83=56⋅56=3136. Vai trò của Hải và Sơn như nhau, có 3 khả năng: Hải thắng, Sơn thắng và hòa. Số trường hợp hòa (hai bạn bốc giống nhau) là C83=56.
Số trường hợp Hải thắng và Sơn thắng là như nhau và bằng 23136−56=1540.
⇒n(A)=1568+1540=3108
⇒P(A)=n(Ω)n(A)=47043108=5637